Pháp luận Pháp âm Diễn đàn Tạp văn Sách Tác giả Tư liệu Liên kết  
 

TƯ LIỆU

 

TỔ Đ̀NH THIỀN LÂM

và vai tṛ lịch sử của nó

Thích Hạnh B́nh

 

Đă có ít nhất ba tác phẩm viết về Tổ đ́nh chùa Thiền Lâm: 1. “Non Nước Ninh Thuận” của Nguyễn Đ́nh Tư, Nxb Thanh Niên, 2003; 2. “Chùa Ninh Thuận” của Thông Thanh Khánh, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 2000; 3. “Lịch sử Phật Giáo Đàng Trong” của Nguyễn Hiền Đức, Nxb Thành Phố Hồ Chí Minh, 1995.

Đề cập Chùa Thiền Lâm, nội dung hai tác phẩm đầu, tác giả chủ yếu dựa vào lời kể của những bậc trưởng lăo, cao niên c̣n sống tại địa phương, tuy gần gũi với sự thật, nhưng thiếu bằng chứng cụ thể, nên chưa thuyết phục người đọc, v́ nội hàm của nó được xây dựng trên truyền thuyết.

Riêng tác phẩm “Lịch sử Phật Giáo Đàng Trong” của Nguyễn Hiền Đức, về phương pháp nghiên cứu tuy có căn cứ trên một số chứng cứ tư liệu, nhưng có quan điểm ngược lại, phủ nhận tổ khai sơn Liễu Minh hiệu Đức Tạng (? – 1813), bằng lối suy diễn của ḿnh cho rằng tổ Liễu Minh – Đức Tạng cũng chính là tổ Hải B́nh hiệu Bảo Tạng (1818~1872), từ đó phủ bác niên đại 1789 khai sơn chùa Thiền Lâm. Điều đó có nghĩa là, giữa thực tế Tông môn đang thờ Tổ khai sơn và quan điểm vừa nêu của Nguyễn Hiền Đức có sự chênh lệch về mặt thời gian đến 65 năm!

Vậy sự thật về lịch sử chùa Thiền Lâm như thế nào, đây chính là nội dung sẽ được thảo luận trong bài viết này.

Nói đến lịch sử là nói đến tư liệu và xử lư tư liệu. Như vậy tư liệu mà tác giả sử dụng chính trong bài viết này bao gồm:

1. Một số tài liệu được viết bằng chữ Hán và chữ Chiêm Thành có liên quan đến việc người dân cúng ruộng, đất cho Tổ đ́nh Thiền Lâm qua các niên đại từ niên hiệu Gia Long thứ 8 (1809) cho đến trước năm 1975, trong đó có nhiều tư liệu đề cập đến lịch sử h́nh thành Tổ đ́nh Thiền Lâm;

2. Tác phẩm “Thích Song Tổ Ấn Tập” được viết bằng chữ Hán của Thích Tịnh Hạnh  (1865 – 1930), in năm Quư Hợi (1923)[1]. Trong tác phẩm này cũng có đoạn ghi rơ niên đại và Tổ khai sơn chùa Thiền Lâm;

3. “Hồ sơ Di tích Kiến trúc tôn giáo Đ́nh Đắc Nhơn” ghi rơ: Đ́nh Đắc Nhơn do Ḥa thượng Đức Tạng khai sáng;

4. Tác phẩm “Nam Thổ Bảo Đàn Kinh” của Thích Tịnh Hạnh (tái bản vào mùa hạ năm Đinh Tỵ - 1917), mô tả quá tŕnh truyền bá Phật Giáo Đàng Trong, và được cố Ḥa thượng Huyền Tân bổ sung bằng cách ghi thêm ở trang đầu tác phẩm này về lịch sử khai sơn Tổ đ́nh Thiền Lâm;

Những tài liệu này không những phủ nhận quan điểm của Nguyễn Hiền Đức, mà c̣n là cơ sở đáng tin cậy để bổ khuyết cho “những câu chuyện truyền khẩu” về niên đại khai sơn Tổ đ́nh Thiền Lâm như đă nói ở phần trên.

Ngoài ra, chúng tôi c̣n tham khảo thêm một số tài liệu khác ít nhiều có liên quan đến bài viết, như:

- Tác phẩm Vương quốc Champa của Giáo sư Lương Ninh, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2006;

- Tác phẩm Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam của Hội khoa học Lịch sử Việt Nam, Nxb Thế giới, năm 2006;

- Văn tự chữ Hán khắc trên bản gỗ khuôn in bộ Kinh Pháp Hoa được lưu giữ tại chùa Phật Quang (do Ḥa thượng Huệ Tánh trụ tŕ, (số, phường xă) Phan Thiết, B́nh Thuận) có ghi: “Đại Việt quốc, Quảng Nam xứ, B́nh Thuận phủ nội phủ biệt tải cảm lăm thuộc An Ḥa thôn Bà Tiên điếm di tự trụ Ma Nương điếm, Đắc Nhơn ấp Bồ Đề tự trụ phụng” (Nước Đại Việt, xứ Quảng Nam, phủ B́nh Thuận. Nội phủ đặc biệt (ra lệnh) chuyên chở gỗ cảm lăm ở thôn An Ḥa, điếm Bà Tiên nhằm di dời sửa chùa (Thiền Lâm). Trụ tŕ chùa Bồ đề phụng”. Không đơn thuần do chùa Thiền Lâm bị xuống cấp và ḷng cung kính Tam bảo mà chính quyền (nội phủ B́nh Thuận) ra lệnh chuyển gỗ giúp chùa Thiền Lâm trong việc di dời, sửa chữa, mà sự kiện này chắc hẳn có liên quan trực tiếp đến vai tṛ cá nhân của Tổ Liễu Minh cũng như vị trí của chùa Thiền Lâm đối với đời sống sinh hoạt của cộng đồng dân cư sở tại cũng như các vùng phụ cận. Để khẳng định luận cứ này, chúng tôi thấy rằng, ngoài việc khai sơn chùa Thiền Lâm, Tổ Liễu Minh cũng là một trong những người khởi xướng và bỏ nhiều công sức trong việc xây dựng đ́nh Thần Đắc Nhơn để thờ một vị vua của người Chăm có tên Pô Klong Garai[2]. Ở đây dần hiện rơ lư do tại sao một tu sĩ Phật giáo cùng đồng thời xây chùa “thờ Phật” và kiến tạo đ́nh để “thờ Thần”? Đây là mối quan hệ dung ḥa giữa tín ngưỡng và Phật giáo, hay đúng hơn là vai tṛ của Phật giáo được thực thi hầu như xuyên suốt trong suốt quá tŕnh mở rộng vùng đất phương Nam của các vương triều phong kiến Việt Nam mà ta dễ dàng nhận thấy qua ḍng sử Việt.

1. Khái quát bối cảnh lịch sử.

Thời cổ đại, trên lănh thổ Việt Nam hiện nay có ba trung tâm văn hóa xă hội lớn gắn liền với ba nhà nước, đó là: nhà nước Văn Lang - Âu Lạc ở phía Bắc gắn liền với Trung tâm văn hóa Đông Sơn; nhà nước Lâm Ấp (Champa) ở miền Trung gắn liền với Trung tâm văn hóa Sa Huỳnh và, nhà nước Phù Nam ở phía Nam gắn liền với Trung tâm văn hóa Óc Eo. Tuy nhiên, với nhiều lư do khác nhau để rồi theo thời gian, ba nhà nước này dần được xác nhập về mặt lănh thổ và trở thành một nhà nước Việt Nam thống nhất như hiện nay.

(1). Năm 111 trước công nguyên, nhà Hán thống trị nước Âu Lạc, ngoài hai châu Giao Chỉ và Cửu Chân, nhà Hán lập thêm quận Nhật Nam – Là vùng đất từ Hoành Sơn đến đèo Cù Mông, chia làm 5 huyện: Tây Quyển, Chu Ngô, Tỷ Cảnh, Lô Dung và Tượng Lâm. Tượng Lâm là huyện xa nhất về phương Nam trong các đất chiếm đóng của Nhà Hán, nay thuộc Quảng Nam, Quảng Ngăi và B́nh Định. Cuối thế kỷ thứ II, nhân dân các châu, quận nói trên thường xuyên liên kết với nhau để chống lại ách đô hộ của Nhà Hán. Năm 190 – 193, thừa lúc nhà Hán loạn lạc, người đứng đầu của nhân dân Tượng Lâm tên là Khu Liên đă lănh đạo nhân dân Tượng Lâm nổi dậy giết chết huyện lệnh, giành quyền tự chủ, lên ngôi và lập nước với tên gọi Lâm Ấp. Đến thế kỷ IV, từ nhà nước Lâm Ấp sơ khai đă phát triển thành một đế chế phong kiến với tên gọi Hoàn Vương (Panduranga) vào khoảng năm 758 và sau cùng được gọi là Chiêm Thành từ những năm 859 (phương tây gọi là Champa – xuất phát từ tên của vương triều Campapura). Lúc mạnh nhất, nhà nước Champa trăi dài từ Hoành Sơn, sông Gianh ở phía Bắc đến sông Dinh (thuộc huyện Hàm Tân, tỉnh B́nh Thuận hiện nay); ở phía Nam đến lưu vực Krong Pô Cô và sông Đà Rằng trên Tây Nguyên. Về phía Đông, họ thật sự làm chủ cả vùng ven Biển Đông cùng với dăy đảo gần bờ (Giáo sư Lương Ninh, sách đă dẫn).  Do đặc điểm về mặt địa lư của vùng duyên hải miền trung có nhiều điều kiện thuận lợi cho nghành nghề đánh bắt thủy hải sản, phát triển nông nghiệp và nhất là có những hải cảng thuận lợi cho việc giao thương hàng hóa giữa các nước vùng phụ cận. Với đặc điểm này, nhà nước Lâm Ấp sơ khai cũng như vương quốc Champa về sau chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi các nền văn hóa trong khu vực, nhất là Ấn Độ và các nước vùng Nam Á, mà rơ nét nhất là chịu ảnh hưởng của Phật giáo, Bà La Môn giáo và Hồi giáo về sau này, dần theo thời gian, ba tôn giáo này đă làm nên bản sắc văn hóa đặc thù của người Chăm. Tuy nhiên, do nhiều lư do nội tại của nhà nước Champa, đến khoảng thế kỷ XIII, th́ Phật giáo, Bà La Môn giáo và Hồi giáo có phần mờ nhạt dần và thay vào đó là việc tôn vinh biểu tượng và thờ cúng Quốc Tổ để phù hợp với một giai kỳ lịch sử mà người Chăm xét thấy cần phải khơi dậy. Tuy nhiên cần phải xác định rằng, dù có sự đan xen giữa các tôn giáo và về sau có xu hướng tôn sùng và thờ cúng Quốc Tổ, nhưng xuyên suốt quá tŕnh lịch sử của các vương triều Champa cho thấy, Bà La Môn giáo vẫn là tôn giáo giữ vai tṛ chi phối vượt trội so với Phật giáo và các tôn giáo, tín ngưỡng khác trong cộng đồng xă hội của người Chăm.

(2). Đối với các vương triều Champa, trong quá tŕnh phát triển của họ có sự phân biệt về huyết tộc giữa hai miền Nam, Bắc. Miền Nam do bộ tộc Cau (Kramukavamsa) cai quản, miền Bắc th́ cai quản bởi bộ tộc Dừa (Narikelavamsa), chính điều đó mà các vương triều Champa thường xuyên xảy ra nội loạn, xung đột và có xu hướng ly khai tự trị, lúc th́ ở miền Nam, khi th́ diễn ra ở miền Bắc[3]. Đó là những nguyên nhân nội tại cơ bản dẫn đến sự suy thoái của nhà nước Champa. Về khách quan, với đặc điểm địa lư, đất nước Champa là vùng đất nằm giữa các vương quốc mạnh, do đó thường xuyên bị chi phối, tác động ảnh hưởng bởi những biến động về chính trị, xă hội… của các vương quốc này, mà trong đó, giai đoạn đầu có sự tác động lệ thuộc trực tiếp hoặc gián tiếp nguy hiểm của các triều đại phong kiến phương Bắc. Đáng chú ư, từ thế kỷ thứ X đến thế kỷ XII, thường xuyên xảy ra xung đột và chiến tranh giữa Champa và Chân Lạp, trong đó có những xung đột gay gắt và kéo dài gần cả trăm năm, lúc th́ Champa bị nhà nước Chân Lạp khống chế, lúc th́ Champa đánh chiếm Chân Lạp… đă làm cho hai nhà nước này bị khủng hoảng trầm trọng về mọi mặt[4], để rồi theo thời gian, kết hợp với những nguyên nhân khác đă làm cho hai nhà nước này đi đến chổ suy sụp hoàn toàn.

(3). Đối với lịch sử của đất nước Việt Nam, từ nhà nước Âu Lạc sơ khai, trăi qua “ngh́n năm Bắc thuộc” cho đến khi xác lập và khẳng định quyền tự chủ bằng chiến thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng vào năm 938 và cho đến cuối thế kỷ XVIII, mối quan hệ giữa các triều đại phong kiến Việt Nam xưa và các nhà nước Champa, Chân Lạp cũng có có nhiều diễn biến phức tạp. Trong tiến tŕnh lịch sử ấy, chúng ta thấy rằng giữa ba nhà nước này tuy có nhiều điểm tương đồng về mặt tín ngưỡng, tôn giáo (Phật giáo),… nhưng thường xuyên xảy ra xung đột và chiến tranh để tranh chấp về quyền lực cũng như về cương thổ, trong đó nhiều lần vương triều Champa và Chân Lạp đă tự nguyện cắt đất để cầu ḥa hoặc v́ lư do hàm ơn đối với dân tộc Việt… Tuy nhiên, dù với lư do nào đi chăng nữa, dù chủ động hay bị động th́ kết quả của các cuộc xung đột, chiến tranh đó đều làm cho các nhà nước này bị nhiều tổn thất. Ở đây, chúng tôi không có tham vọng muốn tŕnh bày lại tiến tŕnh lịch sử ấy, v́ nó không phải là chủ đề của bài viết này. Nhưng v́ có những vấn đề liên quan phụ thuộc đến bài viết, nên buộc chúng tôi lược qua một số sự kiện có tính khái quát và cô động nhất có liên quan để làm rơ hơn những ǵ chúng tôi đă đặt ra ở trên.

Trước đó nhiều thế kỷ, và đến năm 1471, do nhà nước Champa nhiều lần quấy nhiễu cương thổ, buộc Lê Thánh Tông phải thân chinh đánh chiếm kinh đô Vijaya[5]; Năm Tân Hợi (1611), Nguyễn Hoàng tiến đánh Champa lập tỉnh Phú Yên; Năm Quư Tỵ (1653) vua Champa tiếp tục gây hấn, chúa Nguyễn Phúc Tần đem quân chinh phạt và chiếm vùng đất Khánh Ḥa Phan Rang, lấy mốc từ sông Phan Rang (c̣n gọi là sông Dinh) trở ra lập thành Thái Ninh phủ, sau đổi thành phủ Diên Khánh, từ sông Phan Rang trở vào vẫn thuộc lănh thổ của người Chăm. Với những kiến trúc đền tháp độc đáo và tinh tế của người Chăm c̣n tồn tại đến nay tại Nha Trang, Ninh Thuận, B́nh Thuận cho thấy, nơi đây từng là một trung tâm về kinh tế, chính trị và văn hóa của nhà nước hậu kỳ Champa. Điều đó có nghĩa là, sau nhiều lần bị thu hẹp vùng lănh thổ, các vương triều Champa đă tập trung xây dựng, củng cố và phát triển thêm về mọi tiềm lực nhằm khẳng định lại vị trí của các vương triều trước đây đă mất. Đến năm Quư Dậu (1693), do vương triều Champa không triều cống và có ư định chống lại nhà Nguyễn nên Nguyễn Phúc Chu chủ động đánh chiếm vùng đất c̣n lại và theo thời gian cương thổ của người Việt tiếp tục được mở rộng về phương Nam dưới triều các vua sau đó… Sau khi thắng nhà Tây Sơn, năm 1801, Nguyễn Phúc Ánh (Nguyễn Ánh) thống nhất đất nước, lên ngôi lấy hiệu Gia Long, đổi quốc hiệu là Việt Nam và chia đất nước làm 02 Tổng trấn (Bắc Hà, Nam Hà) và 02 vùng (Miền Trung, Kinh Kỳ) tương ứng với 03 miền: Bắc, Trung, Nam. Riêng vùng Phan Rang được ân sủng cho qui chế tự trị v́ có công cùng vua Gia Long chống nhà Tây Sơn. Năm 1820 vua Gia Long mất, con là Nguyễn Phúc Đạm nối ngôi, lấy niên hiệu Minh Mạng, đổi quốc hiệu là Đại Nam, chính thức xác nhập lănh thổ Nhà nước Champa vào cương thổ của Đại Nam vào năm 1832.

(4). Vấn đề di dân tự do t́m vùng đất tốt hơn để sinh sống là một hiện tượng phổ biến khách quan trong quá tŕnh tồn tại và phát triển của các tộc người trên thế giới, đối với người Việt Nam cũng không nằm ngoài qui luật ấy. Từ xa xưa người Việt đă nhiều lần di dân tự do về vùng đất phương Nam để sinh sống, v́ vậy, từ sơ khai cho đến hậu kỳ của các vương triều Champa, Chân Lạp,… cư dân người Việt đă có mặt từ rất sớm tại các vùng lănh thổ của vương các quốc này. Tuy nhiên, càng về sau, vấn đề di dân của người Việt về phương Nam nói chung, vùng duyên hải Nam - Trung Bộ nói riêng, mà cụ thể là tại vùng Phan Rang, Ninh Thuận không chỉ đơn thuần là tự phát, mà đă trở thành chủ trương của các triều đại phong kiến Việt Nam. Đặc biệt là từ thời “Trịnh - Nguyễn phân tranh”, việc di dân vào vùng đất này là một chiến lược tất yếu để đảm bảo vững chắc cho những thành quả mà nhà Nguyễn đă giành được. Trong quá tŕnh lịch sử ấy, mối quan hệ xă hội giữa hai sắc tộc Việt, Chăm là mối quan hệ cộng sinh, họ định cư đan xen với nhau, cùng khai hoang lập nghiệp, phát triển kinh tế, … và vấn đề hôn nhân dị chủng giữa hai sắc tộc là điều không tránh khỏi trong điều kiện sống ấy, để rồi theo thời gian, yếu tố Chăm từ chỗ chiếm ưu thế phải nhường lại cho yếu tố Việt trổi dậy ngày một mạnh hơn, và theo đó, vấn đề văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo,… của người Việt cũng được truyền bá một cách sâu rộng và có tác động ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sinh hoạt của cộng đồng người Chăm.

Cũng cần nói thêm là, từ năm 1771 tranh chấp giữa phong trào Tây Sơn và Nguyễn Nguyễn Ánh ngày càng trở nên quyết liệt, do Phan Rang là vùng đất có nhiều điều kiện thuận lợi để tổ chức các hoạt động quân sự lúc bấy giờ, cả Tây Sơn và Nguyễn Ánh đều muốn chiếm giữ vùng đất Phan Rang để làm pḥng tuyến công, thủ. Điều đó làm cho vùng đất Phan Rang nói chung và cộng đồng dân cư Việt, Chăm sống trên vùng đất này lúc bấy giờ nói riêng buộc phải lệ thuộc vào sức mạnh của mỗi bên, lúc Nguyễn Ánh ở thế thượng phong th́ vương triều Champa ủng hộ Nguyễn Ánh đánh Tây Sơn, và ngược lại. Sau khi thắng nhà Tây Sơn và lên ngôi Hoàng đế, nhằm tỏ rơ uy thế, củng cố quyền lực cho vương triều mới và áp chế các lực lượng đối lập khác để chủ động triệt tiêu các mầm móng phản loạn có thể xảy ra về lâu dài, vua Gia Long không những thẳng tay thanh trừng triệt để những người có quan hệ với nhà Tây Sơn, mà c̣n dùng nhiều biện pháp cứng rắn khác để xóa bỏ hầu như toàn bộ những dấu vết của nhà Tây Sơn trước đó. Vua Gia Long qua đời, vua Minh Mạng lên thay đă áp dụng chính sách “Việt hóa” vùng Ninh Thuận, B́nh Thuận, đồng thời lấy Phan Rang làm nơi tranh chấp chiến lược để khẳng định uy quyền đối với Tổng trấn Gia Định là Tả quân Lê Văn Duyệt (cựu đại thần của vua Gia Long) và sau này, vua Minh Mạng tiếp tục xác định vùng đất Phan Rang là nơi trọng yếu cần nắm giữ trong quá tŕnh dẹp cuộc bạo loạn của Lê Văn Khôi (con nuôi của Lê Văn Duyệt).

Những sự kiện nêu trên cho thấy, Phan Rang là vùng đất có vị trí chiến lược hết sức quan trọng trong tiến tŕnh mở rộng ảnh hưởng của nhà Nguyễn lúc bấy giờ. Tuy nhiên, đây cũng là nguyên do chính làm cho vùng đất Phan Rang “biến thành băi chiến trường” ác liệt và đẩm máu trong suốt quá tŕnh xung đột giữa nhà Nguyễn với nhà Tây Sơn. Theo đó, ngoài sự chết chóc của quân binh tham chiến hai phía, th́ nhà cửa, ruộng vườn, tính mạng… của người Việt và người Chăm cũng cùng chung số phận là điều không tranh khỏi, đó là những bi thương mất mát không thể dùng bất cứ phương tiện vật chất nào để bù đắp. V́ vậy, sự xuất hiện kịp thời của Phật giáo người Việt trong giai đoạn này tại Ninh Thuận nói chung, tại Phan Rang nói riêng là nhằm mục đích làm diệu đi những mất mát đau thương do cuộc chiến giữa nhà Tây Sơn và Nguyễn Ánh gây ra cho các sắc tộc tại vùng đất Phan Rang này. Ở đây, với chùa Thiền Lâm, ngoài hai ư nghĩa nói trên, sự kiện Tổ Liễu Minh Đức Tạng xây đ́nh Thần Đắc Nhơn để thờ vua Pô Klong Garai của người Chăm[6] c̣n mang thêm một ư nghĩa sâu sắc, đó là, Phật giáo c̣n là đại diện cho tinh thần dân tộc Việt để hóa giải những xung đột, hiềm khích giữa các sắc tộc ở vùng đất này trong tiến tŕnh khai mở đất phương Nam của triều đại phong kiến nhà Nguyễn cuối cùng của Việt Nam. Có thể nói đây chính là lời giải đáp tại sao nội phủ B́nh Thuận lại đặc biệt ra lệnh chở gỗ tại thôn An Ḥa tái thiết xây dựng chùa Thiền Lâm, do tổ Hải B́nh - Bảo Tạng khởi xướng

Ngoài ư nghĩa này, chùa Thiền Lâm c̣n được xem như một trạm dừng chân cho các thiền sư từ miền Trung đến miền Nam du hóa, v́ với quăng đường dài sáu, bảy trăm cây số, thời ấy phương tiện đi lại c̣n thô sơ, không thể không có chỗ dừng chân nghỉ ngơi. Thời ấy phương tiện giao thông chưa phát triển, các ngài phải đi bộ, v́ vậy trong tác phẩm “Thích Song Tổ Ấn Tập” Thích Tịnh Hạnh đă mô tả sự gian nan khổ nhọc của các thiền sư: “ …lộ tŕnh từ Thừa Thiên (đến miền Nam) phải vượt qua sông núi, thời gian mất đến 8,9 năm, những người đi theo kẻ c̣n người mất, nhưng ḷng của các ngài không sợ sinh tử, dù có đói khát cũng không than thở, chỉ v́ mục đích để cho dân chúng bớt khổ…”, đó là lư tưởng của các thiền sư. Trong những người vào Nam du hóa đó, có Tổ Hải B́nh - Bảo Tạng, Ngài đến trụ tŕ và trùng tu chùa Thiền Lâm, sau đó Ngài mới tiếp tục du hóa, Ngài đă khai sơn rất nhiều chùa ở phía Nam.

Từ bối cảnh xă hội này, chúng ta mới có thể h́nh dung và khái quát vai tṛ và vị trí ngôi chùa Thiền Lâm trong sự nghiệp Nam tiến của dân tộc nói chung và Phật giáo nói riêng, cũng như vai tṛ của nó đối với tỉnh Ninh Thuận nói chung và Phật giáo tỉnh Ninh Thuận nói riêng.

Năm 1069, Lư Thánh Tông tiến đánh Champa và chiếm cứ thủ đô Chà Bàn; Năm 1470, Lê Thánh Tông đánh chiếm toàn bộ khu vực trung tâm Vijaya và Kauthara. Chính hai sự kiện này đă đẩy nhà nước Chămpa dần lui về phương Nam để xây dựng và phát triển trung tâm Panduranga (vùng Ninh Thuận và B́nh thuận hiện nay).

 

1.      Vị trí địa lư

 

Theo ḍng lịch sử, đơn vị hành chánh của chùa Thiền Lâm không thống nhất, được thay đổi theo quá tŕnh diễn biến theo từng thời đại. Trước nhất, từ năm 1653 sau khi Chúa Nguyễn Phúc Tần đánh chiếm Phan Rang, cắt chia từ sông Phan Rang (sông Dinh) trở ra phía Bắc đến Nha Trang gọi là phủ Thái Ninh, sau đổi thành phủ Diên Khánh, ấp Đắc Nhơn, điếm Bà Tiêm. Đến năm 1693 Chúa Nguyễn Phúc Chu đánh chiếm phần đất c̣n lại của Chiêm Thành, tức từ sông Phan Rang trở vào đến Phan Thiết, lại lấy vùng đất Phan Rang - Tháp Chàm (bao gồm Đắc Nhơn) h́nh thành phủ B́nh Thuận, huyện An Phước, xă Đắc Nhơn; đến thời Tự Đức đổi thành phủ Ninh Thuận, huyện An Phước, tổng Vạn Phước, xă Đắc Nhơn; đến thời Duy Tân đổi thành đạo Ninh Thuận, tổng Kinh Dinh, xă Đắc Nhơn; trước năm 1975 đổi thành Tỉnh Ninh Thuận, huyện An Sơn, xă Nhơn Sơn, thôn Đắc Nhơn; từ năm 1976-1992 đổi thành Tỉnh Thuận Hải, huyện Ninh Sơn, xă Nhơn Sơn, thôn Đắc Nhơn; đến năm 1992 lại cho đến nay đổi thành tỉnh Ninh Thuận, huyện Ninh Sơn, xă Nhơn Sơn, Thôn Đắc Nhơn, đây là các cơ quan quản lư hành chánh của chùa Thiền Lâm qua các thời kỳ lịch sử khác nhau.

Về vị trí địa lư, chùa Thiền Lâm nằm bên trái quốc lộ 14, đường đi từ Phan Rang lên Đà Lạt, cách trung tâm thành phố Phan Rang 9 km, Tháp Chàm 4 km, nằm ở phía tây. Xưa kia Tháp Chàm thuộc ấp Đắc Nhơn nên trong sách sử cũng gọi tháp này là tháp Đắc Nhơn, điều đó cho thấy ngôi chùa nằm ngay trong địa bàn của Tháp. Chùa được xây dựng trên mô đất h́nh con rùa, quay về hướng Đông, đến năm Giáp Dần (1854) tổ Hải B́nh – Bảo Tạng mới đổi hướng chùa xoay hướng Tây Nam. Trước chùa là hai cây Bồ đề to cao đến 5,6 người ôm, tàng che cả mẫu đất, phía đông là hàng me già cội, phía Tây là dăy Tháp. Trước khuôn viên chùa là vùng đất soi, rộng 4 mẫu, sâu gần 2 mét so với đất nền chùa, hiện đang trồng dừa, tạo thành một vườn cây cao xanh rất đẹp, kế đến cách chùa chừng 500 m là ḍng sông Dinh bắt nguồn từ Sông Pha, được bao bọc bởi lũy tre xanh, làm bức tường che chắn cho ḍng nước lũ vào mùa mưa băo. Ḍng sông này c̣n có tên lịch sử là sông Ma Nương, v́ nó ở vùng đất Ma Nương và cũng là ranh giới phân chia giữa nước Việt Nam và Chiêm Thành vào thời Chúa Nguyễn Phúc Tần, như đă được đề cập. Sau lưng chùa là đường quốc lộ 14. Bên kia đường là cụm dân cư, kế là đồng lúa Soài, rồi đến núi Ngỗng. Chính v́ chùa nằm ở vị trí có phong cảnh hữu t́nh như vậy nên cố đại lăo Ḥa thượng Thích Huyền Tân đă để lại bài thơ mô tả về cảnh chùa:

Thiền Lâm phong cảnh đẹp phi thường

Hoa lá bốn mùa tỏa khắp phương,

Sau núi Nga sơn bao bọc hậu,

Trước sông Lâm Cấm măi lưu trường,

Tre xanh mườn mượt bao quanh khắp,

Liễu biếc buông tơ rợp phủ đường[7].

Viếng cảnh ai vào trong ngắm măi,

Đâu ngờ cảnh đẹp thắng ngàn phương.[8]

 

2.      Tổ khai sơn

Theo tác phẩm “Non Nước Ninh Thuận” của Nguyễn Đ́nh Tư và “Chùa Ninh Thuận” của Thông Thanh Khánh th́ chùa Thiền Lâm do tổ Liễu Minh hiệu Đức Tạng khai sơn vào nhà Hậu Lê năm thứ hai (1789), nhưng tác phẩm “Phật Giáo Đàng Trong” của Nguyễn Hiền Đức lại cho rằng, tổ Liễu Minh Đức Tạng là tổ Hải B́nh – Bảo Tạng (1818 - 1872)[9]. Dù trong tác phẩm của ḿnh tác giả không chứng minh rơ ràng luận cứ này xuất phát điểm từ đâu, tuy nhiên theo suy luận logic của chúng tôi th́, có thể tác giả căn cứ vào bia tháp của Tổ Hải B́nh - Bảo Tạng tại chùa Ngọc Tuyền (ở xă Phước Hải, Long Đất, Bà rịa – Vũng Tàu) ghi ngày viên tịch của Tổ là ngày 25 tháng 5 năm Nhâm Thân (1872), trong khi đó ngày kỵ Tổ Liễu Minh – Đức Tạng khai sơn chùa Thiền Lâm cũng là ngày 25 tháng 5 Âm lịch. Có lẽ tác giả căn cứ sự trùng hợp này mà suy luận rằng Tổ Liễu Minh – Đức Tạng chính là Tổ Hải B́nh - Bảo Tạng. Rồi để lư giải tại sao một vị có đến hai pháp danh và pháp hiệu, tác giả lại đưa ra giả thuyết, v́ tổ Hải B́nh - Bảo Tạng cầu pháp Tăng Cang Tế Giác, cho nên được Ngài ban cho pháp danh Liễu Minh – Đức Tạng, và để cho vấn đề niên đại được hợp lư, tác giả Nguyễn Hiền Đức phải kéo lùi niên đại khai sơn chùa Thiền Lâm vào năm 1849[10]. Thế th́ vấn đề được đặt ra ở đây là, Đức Tạng và Bảo Tạng là một người hay hai người khác nhau? Ai là vị khai sơn chùa Thiền Lâm? Khai sơn vào năm nào? Để giải tỏa những hoài nghi này, ở đây chúng tôi xin dẫn chứng một số tư liệu có ghi rơ về niên đại và Tổ khai sơn chùa Thiền Lâm như sau:

1/ Như đă được đề cập, hiện nay chùa Thiền Lâm vẫn c̣n đang lưu giữ một số giấy tờ ruộng đất của chùa có từ thời Gia Long cho đến nay. Trong số đó, có một tài liệu ghi ngày 03 tháng 5 năm 1964, gởi cho ông Quận trưởng Quận Bửu Sơn, về việc xác nhận một số vấn đề liên quan đến lai lịch chùa Thiền Lâm. Tài liệu này có nhiều chữ kư của Phật tử chùa Thiền Lâm và được ông thôn trưởng Bùi Hữu Hạnh và ông xă trưởng Lê Văn Vàng kư tên và đóng dấu xác nhận, với nội dung: “Trong cuộc thảo luận chúng tôi nói rằng chùa Thoàn Lâm (Thiền Lâm) từ khi thành lập đến nay không có giấy tờ ǵ. Nhưng khi về lại chùa xem lại trên một bảng gỗ viết bằng chữ Hán như sau: Chùa Thoàn Lâm nguyên tiểu sử do ngài Đức Tạng Ḥa thượng hiệu Liễu Minh tổ sư khai sáng, lập từ đời Hậu Lê, niên hiệu Chiêu Thống năm thứ ba, tính đến nay được 180 năm. Trong năm Bảo Đại thứ 16 (1941) Quan Công Bộ đại thần Tôn Thất Quảng phong sắc tứ chùa này.” (Xem phụ lục).

Nội dung tài liệu trên không có ǵ phải bàn căi, tranh luận, v́ nó đă khẳng định rơ ràng người khai sơn và niên đại khai sơn chùa Thiền Lâm (Khai sơn chùa Thiền Lâm là Ḥa thượng Đức Tạng hiệu Liễu Minh; Niên đại khai sơn chùa vào thời Hậu Lê niên hiệu Chiêu Thống năm thứ 3 - tức vào năm 1789). Tuy nhiên, việc truy nguyên ở đây là, “bản gỗ viết bằng chữ Hán” nêu trên hiện giờ ở đâu? đó là vấn đề nan giải mà chúng tôi đă và đang tiếp tục làm rơ, v́ từ những năm đầu của thập niên 80 của thế kỷ 20, chúng tôi phát hiện có rất nhiều bản gỗ viết bằng chữ Hán được treo răi rác nhiều nơi trong nội viện của chùa Thiền Lâm, trong đó có những bảng gỗ ghi họ tên những người cúng dường tài vật để trùng tu chùa qua nhiều giai đoạn khác nhau, nhưng không t́m thấy hiện vật này? V́ vậy, theo chúng tối th́, có lẽ qua một thời gian khá dài, v́ thiếu sự bảo quản cẩn trọng trong một giai đoạn lịch sử có đầy những biến động nhiễu nhương, loạn lạc do chiến tranh gây ra, do đó “bản gỗ” này (và c̣n nhiều hiện vật khác nữa) có thể đă bị thất lạc ở đâu đó, hoặc đă bị mục nát theo thời gian (theo tài liệu trên th́ bản gỗ viết bằng chữ Hán được phát hiện chậm nhất cũng là ngày mà có sự xác nhận của chính quyền lúc bấy giờ, tức ngày 03/5/1964);

2/ Long vị Tổ khai sơn chùa Thiền Lâm là Liễu Minh – Đức Tạng

3/ Hồ sơ về đ́nh Đắc Nhơn của sở Văn hóa tỉnh Ninh Thuận có ghi: Đ́nh Đắc Nhơn do Ḥa thượng Liễu Minh - Đức Tạng (vị tổ khai sơn chùa Thiền Lâm Ninh Thuận) khai sơn.

4/ Tác phẩm “Thích Song Tổ Ấn Tập” (Chữ Hán) của Ḥa thượng Thích Tịnh Hạnh cũng cho rằng Tổ Liễu Minh hiệu Đức Tạng là người khai sơn chùa Thiền Lâm vào năm Ất Sửu – tức năm 1805 (ở đây có sự sai biệt về mặt thời gian hơn 16 năm so với niên đại 1789 mà Tông môn đang tôn thờ tại Tổ đ́nh Thiền Lâm cũng như các sử liệu có liên quan mà chúng tôi vừa đề cập);

5/ Đại Hồng Chung của chùa Thiền Lâm được đúc vào niên hiệu Gia Long năm thứ 7, tức năm 1808.

6/ Các loại giấy tờ cúng đất cho chùa vào thời Gia Long năm thứ 8, tức năm 1809.

Do đó, dù không t́m thấy bảng gỗ viết bằng chữ Hán nêu trên, nhưng các tài liệu vừa đề cập đă “lấp đầy” khoảng trống này một cách thuyết phục. V́ vậy, tác phẩm “Phật Giáo Đàng Trong” của ông Nguyễn Hiền Đức cho rằng chùa Thiền Lâm được khai sơn vào năm 1854 (và Ḥa thượng Tịnh Hạnh cho là năm 1805) là hoàn toàn sai về niên đại, và khi cho rằng Tổ Liễu Minh hiệu Đức Tạng cũng chính là Tổ Hải B́nh hiệu Bảo Tạng (1818~1872) là người khai sơn chùa Thiền Lâm th́ càng sai lầm hơn nữa. Chúng tôi nghĩ rằng, sự viên tịch trùng ngày tháng của hai Tổ Liễu Minh – Đức Tạng và Tổ Hải B́nh – Bảo Tạng là điều hy hữu, nhưng không v́ thế mà ông Nguyễn Hiền Đức có sự nhầm lẫn giữa hai người hoàn toàn khác nhau, để từ đó dẫn đến một nhận định sai lầm nghiêm trọng đến như vậy!

Mặt dù về lai lịch của Tổ Liễu Minh hiệu Đức Tạng chúng tôi đang trong quá tŕnh t́m hiểu và nghiên cứu, và nhân đây, chúng tôi cũng mong được các bậc tôn túc trưởng lăo, các học giả, các nhà nghiên cứu… giúp đỡ để Tông môn chùa Thiền Lâm bổ sung cho phần khiếm khuyết này. Tuy nhiên, cho đến nay, căn cứ vào một số tài liệu được lưu giữ tại chùa Thiền Lâm, trong đó có quyển “Nam Thổ Bảo Đàn Kinh” được viết bằng chữ Hán của Ḥa thượng Thích Tịnh Hạnh, có thể nói là tác phẩm đầu tiên viết về lịch sử Phật giáo đàn trong, nhưng lại không đề cập đến chùa Thiền Lâm, nên Ḥa thượng Huyền Tân đă viết thêm một đoạn bằng chữ Hán bổ sung thêm phần lịch sử có liên quan đến Tổ khai sơn chùa Thiền Lâm như sau:

 

“Tổ ấn trùng quang, kiến Đắc Nhơn Thiền Lâm tự, nguyên tiền tổ Đức Tạng khải lập mao đ́nh tự, lĩnh Chiêu Thống tam niên, tức Hậu Lê Hoàng Đế, chí Gia Long tứ niên khải hành Long Khánh đ́nh tự, chí Gia Long thất niên trù Hồng Chung trí tại tự. Tổ văng chư linh sơn tự… tu, chí Gia Long thập nhị niên, ngũ nguyệt nhị thập ngũ nhật viên tịch, kiến tạo tháp trung tại tự, hiện kiến tiền bi liệt tế lưu thiệu cụ hậu tri chi, đạt chi, tưởng chi, chiếm tiền cố hậu trùng chi giả hỉ hô. Thiền Lâm tự.” (Dịch: Tổ ấn trùng quang, khai sơn chùa Thiền Lâm ở làng Đắc Nhơn vốn là tổ Đức Tạng, vào năm Chiêu Thống thứ 3, tức thời Hậu Lê,… Gia Long năm thứ 7, đúc Đại Hồng Chung và an trí tại chùa, sau đó Tổ đi đến các chùa Linh Sơn ẩn tu; cho đến ngày 25 tháng 5 âm lịch, tức Gia Long năm thứ 12 (1813) tổ viên tịch, tạo tháp thờ tại chùa, nay có thể thấy trên bia ghi rất rơ và đầy đủ (?). Từ đó có thể hiểu, biết và tưởng tượng (ra những ǵ trong quá khứ), thấy những ǵ đă qua ở quá khứ, có thể hiểu được việc sau, nó cũng có thể tái lập ấy vậy. Chùa Thiền Lâm.

 Đoạn văn này đề cập đến việc Tổ Đức Tạng viên tịch vào ngày 25 tháng 5, niêm hiệu Gia Long thứ 12 (1813), và được xây dựng tháp thờ tại chùa. Tháp này, xưa nay tương truyền cho rằng trong tháp không có nhục thân của Tổ, chỉ là tháp vọng, nhưng trên thực tế, ngày 28 tháng 11 năm 2008, khi chư tăng chùa Thiền Lâm tiến hành dời tháp về nơi trang nghiêm hơn th́ thật ngỡ ngàng! Phát hiện trong tháp có một bộ hài cốt của Tổ. Chư tăng chùa Thiền Lâm có mặt lúc ấy tự nhiên đều có một cảm giác xúc động dâng trào, không ai nói với ai lời nào nhưng trong thâm tâm đều có cùng ḍng suy nghĩ, đây chính là nhục thân của Tổ khai sơn, bởi một lẽ rất hợp lư là không có ai ngoài Tổ mà lại dám nằm trong tháp mang danh tháp Tổ, ngay sau đó, chư tăng lập tức tiến hành nghi lễ cung nghinh Tổ về tháp mới, như đă được sắp xếp trước.

Qua thực tế, chúng ta mạnh dạn xác định tổ Liễu Minh – Đức Tạng là tổ khai sơn chùa thiền Lâm, nhục thân của ngài được an táng tại chùa, không như truyền khẩu trước đây. Đây là một vài chi tiết liên quan đến cuộc đời và sự nghiệp của tổ mà chúng ta biết được qua lời ghi lại này.

Dẫu rằng, lai lịch xuất thân của Ngài vẫn chưa đầy đủ, nhưng chúng ta không thể phủ nhận công đức khai sơn chùa Thiền Lâm cũng như đ́nh thần Đắc Nhơn của Ngài, nhất là sự đóng góp của Ngài trong sự nghiệp tạo dựng cuộc sống ḥa vui, nơi có nhiều sắc tộc khác nhau, là việc làm có ư nghĩa.

 

3.      Ư nghĩa và mối quan hệ giữa chùa Thiền Lâm và đ́nh Đắc Nhơn

 

Trước năm 1975, mỗi năm cứ vào ngày tế thần đ́nh làng Đắc Nhơn (10 tháng 3 AL), các bậc bô lăo trong làng thường đến thỉnh chư Tăng chùa Thiền Lâm đến đ́nh tụng kinh cầu nguyện, trước khi chính thức cử hành lễ tế thần vào sáng hôm sau. Trong các phẩm vật cúng Thần, ngoài việc giết ḅ dê, lúc nào cũng kèm theo một mâm lễ vật không thể thiếu đó là món xôi nếp được nấu tại chùa Thiền Lâm, và được dâng cúng Tổ trước khi mang về đ́nh cúng Thần; các Thầy lễ (là người Chăm) và các bô lăo phải mặc quốc phục trang nghiêm (khăn đóng áo dài) và thành khẩn đến chùa trước lễ Phật, sau lễ Tổ, rồi hai người khiêng và một người dùng lọng che mâm xôi rước về đ́nh, nếu những người đến thỉnh xôi mà tâm không thành, thân tướng không trang nghiêm th́ năm ấy có điều không lành với dân làng.

Trước đây nhiều người chưa rơ tại sao có tục lệ này v́ phần đông không biết người kiến lập đ́nh thần Đắc Nhơn là Tổ Liễu Minh hiệu Đức Tạng và cũng chính là Tổ khai sơn chùa Thiền Lâm như chúng tôi đă tŕnh bày. Đây là nét đặc thù, mang ư nghĩa xă hội rộng lớn và sâu sắc, có thể nói là trường hợp xưa nay hiếm, v́ hầu như chưa có vị tu sĩ Phật giáo nào xây dựng đ́nh, đặc biệt là đ́nh không thờ Phật, cũng không thờ vị anh hùng hay vị công thần nào của người Việt, mà thờ một vị Thành Hoàng của xứ sở này mà cộng đồng dân cư ở đây đều tôn trọng và nhớ ơn, đó là ông Pô Klong Garai, một vị vua của người Chăm. Ở đây chúng tôi không dám so sánh, bởi thứ nhất, mọi so sánh đều khập khiễng, thứ đến là, các bậc tiền bối hữu công chẳng bao giờ muốn chúng ta làm như thế, tuy nhiên đứng về gốc độ xă hội th́ việc làm này của Tổ Liễu Minh hiệu Đức Tạng tuy có khác về h́nh thức, nhưng về mục đích sâu xa so với khi xưa vua Lư Thánh Tông (1023 – 1072) cho xây Văn Miếu để thờ Khổng tử và 72 vị tiên hiền của Nho gia th́ cũng chẳng khác, có chăng là về qui mô và phạm vi ảnh hưởng của nó. V́ vậy, việc Tổ Liễu Minh - Đức Tạng xây đ́nh để thờ Thần của người Chăm là việc cần làm trong bối cảnh lịch sử ấy, nó là cách thể hiện sinh động và sáng tạo cho tinh thần của “B́nh Ngô Đại Cáo”[11] mà Nguyễn Trăi đă thể hiện khi xưa, đó là “chính sách an dân”. Muốn dân an ổn th́ điều trước tiên phải thực hiện là làm tốt vấn đề “nhân, nghĩa”, mà muốn thực hiện tốt vấn đề này th́ không có ǵ tốt hơn bằng việc bày tỏ sự kính trọng đối với những bậc tiền bối hữu công đối với cộng đồng. Cũng chính v́ lẽ ấy mà đâu đâu ở làng quê Việt Nam từ Băc đến Nam đều có lập đ́nh để thờ “tiền hiền khai khẩn, hậu hiền khai cơ”. Đây không chỉ là truyền thống “uống nước nhớ nguồn; ăn quả nhớ kẻ trồng cây” của dân tộc Việt Nam, mà nó c̣n là nét đẹp văn hóa đặc thù của người Việt Nam ta từ ngàn xưa để lại. V́ vậy, việc Tổ Liễu Minh vừa xây dựng chùa Thiền Lâm vừa xây dựng đ́nh Thần Đắc Nhơn cũng không nằm ngoài mục đích đó.

Hơn nữa, Thứ nhất , Phật giáo du nhập vào quốc gia nào, vùng lănh thổ nào… th́ tùy theo đặc điểm của những nơi đó để làm phương tiện truyền bá sâu rộng vào đời sống xă hội, đó là tinh thần nhập thế linh hoạt của Phật giáo để hóa độ quần sinh; Thứ hai là, quá tŕnh mở rộng cương thổ của người Việt về phương Nam cho thấy, dù có sự cộng cư từ lâu đời giữa người Việt và người Chăm trên vùng đất Phan Rang, nhưng đây là vùng đất do người Chăm khai phá đầu tiên và có giai đoạn nó đă trở thành một Trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của nhà nước Chămpa. Đó là hai yếu tố cơ bản và quan trọng để làm nổi bật mối quan hệ và ư nghĩa ư nghĩa tối hậu của việc Tổ Liễu Minh vừa xây chùa và dựng đ́nh thờ Thần tại vùng đất Phan Rang này. Nghĩa là, Tổ Liễu Minh thông qua Phật giáo để thực thi “nhân, nghĩa” đối với cộng đồng các dân tộc trong vùng, dùng phương tiện dựng đ́nh Thần để ổn định ḷng dân. Nhờ quan điểm đúng đắn và cách cư xử hợp đạo lư đó, mà dù có nhiều sắc tộc cùng sinh sống tại vùng đất Đắc Nhơn - Ma Nương này, nhưng cuộc sống của họ thật b́nh yên, mọi người sống trong tinh thần ḥa ái, cảm thông và hiểu biết. Chính v́ vậy mà tiếng lành đồn xa, cư dân từ các nơi đổ về sinh sống ngày một đông, đúng nghĩa đất lành chim đậu, để từ đó làm nên chất keo kết dính giữa các sắc tộc với nhau trong bổn phận và nghĩa vụ cùng kề vai chung sức trong quá tŕnh xây dựng và bảo vệ đất nước. Đó chẳng phải là sự thể hiện một cách đầy đủ về tinh thần lấy dân làm gốc nhằm đảm bảo cho sự phát triển bề vững của xă hội đấy sao? Cũng không ngoài ư nghĩa này mà đ́nh Thần Đắc Nhơn đặc biệt được triều Nguyễn quan tâm, được phong tặng đến 08 sắc phong của vua, sớm nhất là niên hiệu Minh Mạng thứ 21 (1840); Thiệu Trị thứ 3 (1843); 2 sắc phong niên hiệu Tự Đức thứ 3 (1850) và thứ 33 (1880); Đồng Khánh thứ 2 (1887); Duy Tân thứ 3 (1909) và Khải Định thứ 9 (1924). Riêng chùa Thiền Lâm th́ măi đến niên hiệu Bảo Đại thứ 16 (1941) mới nhận được sắc phong.

Qua những sự kiện lịch sử vừa nêu cho thấy, giữa chùa Thiền Lâm và đ́nh Thần Đắc Nhơn có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau, nói đến chùa Thiền Lâm là nói công đức khai sơn của Tổ Liễu Minh – Đức Tạng, nhắc đến Tổ là nhắc đến vị tiền hiền có công sáng lập đ́nh Thần Đắc Nhơn, cũng là vị tiền hiền có công trong việc làm cho cộng đồng dân cư trong vùng được an cư, lạc nghiệp. Điều đó đă chứng minh một cách hùng hồn cho tinh thần nhập thế dũng mănh của Phật giáo, lấy Từ bi và Trí tuệ để hóa giải mọi hiềm khích, xung đột; gieo hạt giống Bồ đề để được quả t́nh thương, an lạc và hạnh phúc. Ư nghĩa ấy thật tốt đẹp, không những ích lợi cho đạo mà c̣n hữu ích cho đời, Ngài quả là một vị danh Tăng đất Việt, khéo léo vận dụng tinh thần Bồ tát đạo, làm lợi ích chúng sinh và góp phần xiển dương cho tinh thần Phật giáo măi măi trường tồn trong ḷng Dân tộc.

Thiết nghĩ, chúng ta là người Phật tử chùa Thiền Lâm, là dân làng Đắc Nhơn nói riêng, Phật giáo và nhân dân tỉnh Ninh Thuận nói chung cần duy tŕ và phát huy tinh thần tốt đẹp này.

 

4.     Lịch đại truyền thừa và phát triển của chùa Thiền Lâm

 

Nếu năm 1789 là năm khai sơn chùa Thiền Lâm th́ đến nay (2009) chùa Thiền Lâm đă có tuổi thọ tṛn 220 năm. Với chiều dài lịch sử như thế ắt hẳn chùa đă trải qua nhiều vị trụ tŕ. Từ thực tế những long vị trên bàn thờ tổ cho thấy, ngoài long vị tổ khai sơn Liễu Minh c̣n có các long vị khác, Tổ Tế Dương hiệu Đức Thạnh, Tế Điền hiệu Như Bổn, Tế Xuân hiệu quang Thái, Hải B́nh hiệu Bảo Tạng, Hải Chánh hiệu Bảo Thanh, Trừng Lâm hiệu Chơn Hương, Tâm Đạt hiệu Bảo Quang, Quang Huy hiệu Từ Khánh…, Như Thọ hiệu Huyền Tân…, tuy nhiên việc sắp xếp các vị trụ tŕ theo thứ tự thời gian, trong đó ai là vị chính thức trụ tŕ, ai đơn thuần chỉ là vị vị Tăng của chùa, đây là điều khó khăn, v́ hầu như tất cả những long vị trước thời Ḥa thượng Huyền Tân, không có long vị nào ghi rơ chức vụ trụ tŕ, hơn nữa trước khi Ḥa thượng Huyền Tân nhậm nhiệm vụ chùa này đă có một thời gian chùa không có người chính thức trông coi, mặt khác, khi chùa bị sập cất lại vào năm 1997 th́ vô t́nh đă xóa đi không ít dấu tích của nó, do vậy việc xác định lịch đại trụ tŕ của chùa Thiền Lâm cần nhiều thời gian khảo cứu. Tuy nhiên, căn cứ vào chứng tích c̣n lưu lại, qua quá tŕnh truyền thừa duy tŕ và phát huy Tông môn chùa Thiền Lâm, chúng ta thấy có ba đặc điểm nổi bật:

Thứ nhất, Tổ Liễu Minh – Đức Tạng quá xuất sắc trong việc gieo hạt giống Bồ đề tại vùng đất Phan Rang – Tháp Chàm vốn là nơi rất nhạy cảm, rất dễ phát sinh vấn đề xung đột sắc tộc. Ngài đến đây với tư cách là một nhà tu hành, nhằm trồng hạt giống Bồ đề (Tuệ giác) và gieo mầm từ bi nhân ái cho cư dân tại địa phương và vùng lân cận. Bằng hành động cụ thể là xây dựng chùa Thiền Lâm để cho thập phương bá tánh có nơi tu tâm dưỡng tánh, rèn luyện đạo đức, bên cạnh đó Ngài lại kiến tạo đ́nh thần Đắc Nhơn lấy vị vua Chiêm Pô Klong Garai là vị vua được mọi người dân địa phương kính ngưỡng tôn vinh thành vị Thần Hoàng để cho mọi người kính ngưỡng tôn thờ, trong đó có cả người Việt chúng ta. Chính Ngài và Tăng chúng của chùa mỗi năm phải đến đ́nh để tụng kinh cầu nguyện cho quốc thái dân an, tạo sự gần gũi giữa đ́nh và chùa, giữa tăng và tục, giữa các sắc tộc khác nhau, qua đó biểu thị thái độ tôn kính đối với dân tộc Chiêm, tạo sự cảm thông và hài ḥa giữa hai dân tộc. Nhờ vậy, cư dân của vùng đất Đắc Nhơn (bao gồm cả Tháp Chàm, Nhơn Hội, Lương Tri và Đắc Nhơn hiện nay) sống trong ḥa b́nh. Có thể nói đây là cách giáo dục thực tế và hữu hiệu của Ngài. Công đức của Ngài thật vô biên, Ngài không chỉ là vị khai sơn chùa Thiền Lâm, kiến tạo đ́nh thần Đắc Nhơn, di dân lập ấp vùng đất Đắc Nhơn - Mai Nương mà c̣n là vị Tổ sư đầu tiên mang Phật giáo đến tỉnh Ninh Thuận.

Thứ hai, nếu như Tổ Liễu Minh – Đức Tạng là vị có công kiến tạo chùa Thiền Lâm th́ tổ Hải B́nh - Bảo Tạng là người kế thừa và phát huy truyền thống này một  cách xuất sắc. Mặc dù giữ nhiệm vụ trụ tŕ chùa Thiền Lâm, nhưng Ngài không dừng lại ở đó mà vẫn tiếp tục vân du vào Nam để trồng hạt giống Bồ đề, truyền bá Phật pháp. Tại tỉnh Ninh Thuận, Ngài khai sơn chùa Phước Lâm thôn Vạn Phước, khai sơn chùa Trà Cang ở núi Trà Cang, chùa Linh Sơn ở núi Cà Đú, Chùa Cổ Thạnh ở B́nh Thuận, chùa Long Bàn thuộc xă Long Điền, Bà Rịa – Vũng Tàu, cuối cùng Ngài thị tịch tại chùa Ngọc Tuyền Bà Rịa – Vũng Tàu vào ngày 15 thánh 5 năm 1872, nơi đây vẫn c̣n ngôi Tháp của Ngài, nhưng ngôi chùa đă bị chiến tranh phá hủy, vẫn chưa tái thiết. Nếu như Tổ Liễu Minh – Đức Tạng là vị có công kiến tạo chùa Thiền Lâm th́ tổ Hải B́nh - Bảo Tạng có công đem Phật pháp mở rộng ở khắp mọi nơi từ trong tỉnh Ninh Thuận cho đến các tỉnh phía Nam.

Thứ ba, nếu như Tổ Liễu Minh có công khai sơn, tổ Hải B́nh Bảo Tạng có công đi các nơi hoằng pháp bằng cách kiến thiết xây dựng chùa, th́ cố Ḥa thượng Huyền Tân chọn con đường giáo dục làm phương tiện hoằng dương Phật pháp bằng cách lấy chùa Thiền Lâm làm cơ sở giáo dục cho tông môn, mở Phật học viện cho tỉnh, và đào tạo tăng tài. Sự nghiệp đó chúng ta có thể thấy qua cuộc đời và sự nghiệp của Ngài, cụ thể là chúng đệ tử của Ngài trong sự nghiệp học tập và đóng góp cho Phật Giáo Việt Nam. Vấn đề này sẽ được tŕnh bày trong phần đường hướng giáo dục của chùa.

 

5.      Công việc trùng tu và kết cấu kiến trúc cổ (Vật thể, phi vật thể)

 

Trong những kinh sách (bằng chữ Hán) c̣n giữ tại chùa Thiền Lâm có tác phẩm “Nam Thổ Bảo Đàn Kinh” của Thích Tịnh Hạnh, được in lại vào năm Đinh Tỵ (1917) tại chùa Thiền Lâm ở Phan Thiết. Trong tác phẩm này tác giả không đề cập đến chùa Thiền Lâm ở Đắc Nhơn, Phan Rang nên cố Ḥa thượng Huyền Tân hay vị nào trước Ngài viết thêm rằng: “ Tổ ấn trùng quang kiến Đắc Nhơn, Thiền Lâm tự nguyên tiền tổ Đức Tạng khải lập mao đ́nh tự…” Câu này có ư nghĩa rằng lúc đầu tổ Đức Tạng khai sơn chùa Thiền Lâm vốn không phải xây bằng vật liệu kiên cố mà chỉ là một ngôi chùa tranh vách đất, nghe nói xoay về hướng Đông, cho đến tổ Hải B́nh – Bảo Tạng vào năm giáp dần (1854) mới tái kiến thiết xây dựng chùa Thiền Lâm bằng vật liệu kiên cố, có lẽ lần tái thiết này mới chính là lần Nội phủ B́nh Thuận ra lệnh cấp dưới chở gỗ cảm lăm từ Thôn An Ḥa, điếm Bà Tiêm để di dời sửa chữa, như đă được ghi trong bản Kinh Pháp Hoa mẫu được khắc trên gỗ, nhằm để kỷ niệm công tŕnh tái thiết chùa Thiền Lâm. Sự kiện đó có thể là phù hợp với sự thật, v́ trước năm 1993 kiến trúc này vẫn c̣n. Khi đó vật liệu xây dựng chánh điện chủ yếu bằng gỗ, gồm 4 dăy cột gỗ tṛn to, chu vi cột bằng một người ôm. Các đà ngang, dọc cũng làm bằng gỗ. Nhà tổ và các bàn thờ trong chánh điện cũng bằng gỗ. Vách chùa được làm bằng cát trộn vôi nên nhiều nơi bị tróc vữa được đắp vá lại nhiều lần. Nền xi măng khi vào mùa mưa bị rỉ nước ẩm thấp. Nghe nói đất ở đây nhiều mối mọt nên khi làm chùa người ta dùng muối đổ dưới nền, nhằm chống mối. Do vậy nên nền bị rỉ nước và tường vôi gạch rất mau hư. Dù đổ muối trừ mối cũng không tránh khỏi vấn đề mối ăn, sự kiện sập chùa vào năm 1993 cũng v́ mối. Chánh điện chùa được chia thành hai gian, tiền và hậu. Vật liệu xây dựng gian trước khác với gian sau, tường và cột gian trước chủ yếu làm bằng vôi và cát. Nghe kể lại, sau khi cố HT. Huyền Tân nhận nhiệm vụ trụ tŕ chùa Thiền Lâm (1941) th́ vào năm 1959 - 1962 Ḥa thượng bắt đầu đại trùng tu chùa lần thứ hai, chánh điện được nới rộng thêm gian trước, và xây dựng nhiều công tŕnh phụ khác nên gian tiền và hậu có sự khác nhau về vật liệu xây dựng.

Vào khuya ngày 13 tháng 6 năm 1996, trong lúc tăng chúng và Phật tử chùa Thiền Lâm đang tụng kinh gian tiền của chánh điện đổ sập, gian hậu cũng bị ảnh hưởng, rui kèo bên trên bị mối mọt ăn nát. Trước hoàn cảnh đó tông môn của chùa phải t́m cách đại trùng tu. V́ thiếu nhận thức về di tích lịch sử, cộng với tài chính eo hẹp không đủ kinh phí và tŕnh độ tái tạo, nên chư tăng của chùa đă hủy bỏ toàn bộ kiến trúc cổ, thay vào đó bằng kiến thúc thời nay, hoàn toàn bằng xi măng cốt sắt. Đây là điều rất đáng tiếc.

Ngoài ra, chùa Thiền Lâm có nhiều cổ vật thờ cúng như lư hương, chén bát xưa. Trong đó có cặp lư hương là đặc biệt hơn cả, nó có h́nh dáng thuộc loại văn hóa Chiêm Thành (Ấn Độ) cổ, một phần làm bằng đồng, và phần hoa văn làm bằng đá màu xanh đỏ điêu khắc chạm trổ rất đẹp. Trước đây, nghe cố Ḥa thượng kể lại, cặp chưng đèn này có nguồn gốc là đồ thờ trong cung điện của vua Chiêm Thành, sau đó được lưu truyền trong các quan phủ Ninh Thuận, vốn rất linh thiêng. Ai để cặp chưng đèn này trong nhà gặp th́ nhiều điều không lành nên các quan sợ, đem cúng cho chùa Thiền Lâm. Ḥa thượng c̣n kể, trước năm 1975 có nhiều người gạ mua cặp đèn này với giá rất cao nhưng Ḥa thượng không bán mà giữ làm tài sản cho chùa. Lúc sanh tiền, Ḥa thượng rất quí và cất giấu cặp đèn rất kỹ, chỉ trưng bày vào các ngày lễ lớn như tết, Phật đản, giỗ Tổ… Nhưng rất tiếc, cặp chưng đèn này cũng không tránh khỏi những tay trộm chuyên nghiệp nên đă bị mất vào năm 1981

 

6.     Pháp bảo

 

Đến nay, chùa Thiền Lâm đă có chiều dài lịch sử tṛn 220 năm. Tuy kiến trúc và một số cổ vật không c̣n, nhưng vẫn c̣n một số pháp bảo: 

- Đại Hồng chung được đúc vào năm 1808, Gia Long năm thứ 7.

- Một số giấy tờ ruộng đất của chùa, bằng chữ Hán, Chăm và chữ Việt. Trong đó có một giấy tờ từ thời Gia Long năm thứ 8, tức 1809.

- Kinh sách bằng chữ Hán được in từ thời Gia Long trở về sau, bao gồm:

 

a. Kinh

- “Kinh Lăng Già A Bạt Đà La Bảo Kinh Tâm Ấn” (Bản viết tay chữ Hán).

- “Đại Thừa Vô Lượng Nghĩa Kinh” (chữ Hán) do Phật tử Nguyễn Khoa pháp danh Như Nguyện tại xă Mỹ Đồng, tổng Phước Tường, huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Ḥa. (In vào năm nào không rơ.)

- “Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh”(chữ Hán) bản viết tay do Tắc Phước viết tại Liên Hải học đường.

- “Lục Tổ Pháp Bảo Đàng Kinh” (chữ Hán) được in tại chùa Từ Hiếu, tỉnh Thừa Thiên.

- “Kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện Kinh” 2 quyển, in vào năm 1937, Bảo Đại năm thứ 12.

- “Từ Bi Thủy Sám Pháp” in tại Kinh đô tỉnh Thừa Thiên. Do Ḥa thượng Đôn Hậu cúng dường Pháp bảo chùa Thiền Lâm

- “Kinh Di Đà” Sắc tứ Trùng Khánh tự tạng bản, in vào năm Bảo Đại thứ 16, tức năm (1941)

- “Lăng Già A Bạt Đà La Bảo Kinh Tâm Ấn” (chữ Hán) hiện c̣n 3 quyển.

….

b. Luật

 

- “Tỳ Ni Sa Di Oai Nghi Qui Sơn”, bản viết tay, bằng chữ Hán của thầy Hạnh Kư.

- “Tỳ Ni Nhật Dụng Bảo Hoa Sơn Truyền Giới Tỳ Kheo Độc Thể Tập”, bản chữ Hán viết tay, viết vào năm Kỷ sửu (1949).

- “Tỳ Ni Sa Di Oai Nghi Cảnh Sách” (chữ Hán), không rơ năm xuất bản.

- “Phạm Vơng Kinh Bồ Tát Giới”, bản kinh này đại sư Chánh Thiện trụ tŕ chùa Thiền Lâm phát tâm tái bản, tại Phú Xuân, huyện Hương Trà, phủ Thừa Thiên, xứ Thuận Hóa, in vào tháng 2 năm Đinh Hợi (1828), thời Minh Mạng (1820-1840) năm thứ 8, nước Đại Việt. Bản này do cố Ḥa thượng Thích Đồng Từ tặng cố Ḥa thượng Thích Đổng Hải.

- “Quy Sơn Cảnh Sách” (新隆寺教授淨藏守板).

…….

c. Luận

 

- “Kim Cang Chú Giải” Châu Viên Sơn trụ tŕ tự Bảo Tạng phát khởi tạo bản 皈法尊者直解,皈佛尊者集註,珠圓山寺住持字寶藏發起造板  …山寺和尚字寶清證明重刻, được khắc vào mùa thu năm mậu ngọ (1858), thời Tự Đức (1848-1883).

…..

d. Sách

 

- “Thiền Môn Chánh Độ Viên Tịch Khoa Nghi”. Bản viết tay của Thích Tịnh Từ, viết tại chùa Giác Hải.

- “Nam Thổ Bảo Đàn Kinh” (chữ Hán), tác giả Thích Tịnh Hạnh, tái bản vào mùa hạ năm Đinh Tỵ (1917), tại chùa Thiền Lâm ở Phan Thiết. Nội dung tác phẩm này ghi chép về quá tŕnh h́nh thành Phật giáo Đàng trong.

- “Thích Song Tổ Ấn Tập” (chữ Hán), tác giả Thích Tịnh Hạnh, in năm Quư Hợi (1923) . Nội dung tác phẩm này cũng ghi chép về quá tŕnh h́nh thành Phật giáo Đàng trong.

- “Phật Giáo Khoa Thư” (chữ Hán) thủ bút của cố Ḥa thượng Thích Huyền Tân.

- “Đạo Giáo Nguyên Lưu”(chữ Hán) 3 quyển, in vào năm nào và ở đâu không rơ, được cố Ḥa thượng Thích Huyền Tân mua vào tháng 5 năm Mậu Dần (1938), khi Ḥa thượng học tại Cao đẳng Phật học viện Tây Thiên, Huế.

- “Văn Công Gia Lễ Nghi Tiết” (chữ Hán) không rơ niên đại xuất xứ.

- “Duy Thức Đích Khoa Học Phương Pháp”. Bản viết tay.

- Sách coi ngày tháng. Bản viết tay.

- “Thập Niệm Tân Biên” (十念新編) của Liên Tôn ~ Liên Tôn Thập Niệm Pháp Môn yếu Lăm (蓮尊十念法門要覽),平定安仁府永慶寺藏板,in vào thời Khải Định thứ 7, tức năm 1923 .

- “Quán Sở Duyên Duyên Luận trực giải”. Bản viết tay.

- “Việt Nam Hoằng Hóa Tập” Pháp sư Diễn Bồi. Phật lịch 2503. Nxb. Việt Hoa Phật Giáo Liên Hiệp hội.

….

7.      Phương hướng phát triển

 

Chùa là một cơ sở tôn giáo, có trách nhiệm hướng dẫn Phật tử địa phương tu tập theo chánh pháp, và đáp ứng những nhu cầu tín ngưỡng cho mọi người. Chùa Thiền Lâm không quên nhiệm vụ này và c̣n đặc biệt chú trọng đến việc tiếp tăng độ chúng, đào tạo tăng tài.

Nhiệm vụ của vị tăng là “Thượng cầu Phật đạo, hạ hóa chúng sinh”. Muốn hoàn thành hai nhiệm vụ này vị tăng không thể thiếu Phật pháp, v́ Phật pháp là phương tiện đưa chúng ta đến bờ giải thoát. Tăng phải dùng Phật pháp để cứu độ chúng sinh chứ không phải dùng những h́nh thái vật chất khác. Nếu vị tăng không làm đúng tinh thần và trách nhiệm này th́ sẽ tạo một nhận thức sai cho xă hội, làm cho xă hội có cái nh́n không mấy trong sáng về đạo Phật. Vai tṛ vị trí của vị tăng rất quan trọng, đó là lư do tại sao chùa Thiền Lâm, nhất là giai đoạn cố Ḥa thượng Huyền Tân giữ nhiệm vụ trụ tŕ, rất chú trọng đến vấn đề tiếp tăng độ chúng, nuôi dưỡng chúng điệu, đào tạo tăng tài ngay tại chùa hay gởi đi các nơi tu học. Một bức thư cố Đại lăo Ḥa thượng gởi cho đệ tử của ḿnh là cố Ḥa thượng Đỗng Minh, với nội dung như sau:

 

“Thiền Lâm ngày… 1970

Đỗng Minh!

Trong chùa có Hạnh Trí năm nay học đệ nhị, đáng lẽ tôi cho đi Nha Trang, nhưng chùa có ḿnh nó lớn để ở nhà học coi việc chùa cho thầy, v́ ông Điển bây giờ yếu quá. Có lẽ sang năm theo chương tŕnh th́ tôi cho đi Huế luôn có được không hoặc thế nào ông cho biết.

C̣n hai đứa Thị Diễn, Thị Thừa, năm nay học đệ tứ, sang năm cho ra Nha Trang nhập chúng. C̣n lại Hạnh Mẫn, Hạnh Toàn, Hạnh Minh, Hạnh Toại năm nay học đệ lục, như vậy măn đệ tứ rồi, tôi cũng cho ra Nha Trang.

V́ mấy ông này tôi đă dạy Tứ Thập Nhị Chương, Di Giáo, Phát Bồ đề Tâm, Tam Thập Tụng, Bát Thức, Bác Đại Nhân Giác, Luật Giải… Như vậy, tôi đă đào luyện có căn bản, đâu vào đó cả, giao cho ông giúp đỡ đàn em, tôi già yếu rồi không sao đảm đang cho tụi nó được trên đường học c̣n lâu dài…”

Bức thư này tôi t́nh cờ t́m thấy trong tủ sách của chùa Thiền Lâm. Nội dung bức thư cho thấy cố Đại Lăo Ḥa Thượng rất quan tâm chăm lo về việc đào tạo tăng. Đối với tiểu ở chùa th́ phải học hai chương tŕnh: Thế học và Phật học. Thế học th́ phải theo chương tŕnh giáo dục của quốc gia; riêng về Phật học th́ ngài sẽ đào tạo tại chùa, trong thời gian đầu hành điệu (làm chú tiểu) th́ phải học thuộc ḷng hai thời công phu và 4 quyển luật, tất cả đều phải học bằng chữ Hán không được học chữ Việt, huấn luyện viết chữ Hán ngay từ thuở làm điệu. Công việc huấn luyện này là bổn phận trách nhiệm của cố Ḥa thượng Đỗng Hải, cho nên ngài được các huynh đệ gọi là “Thầy Điển” (Điển là điển tọa, là chức vụ của thầy dạy học). Sau khi hoàn tất, đă biết chữ Hán th́ cố Đại Lăo Ḥa thượng trực tiếp dạy Phật pháp. Những Kinh Luật Luận mà Ngài thường giảng dạy như Ngài đă đề cập trong thư và nhiều kinh luận khác đều phải học qua nguyên bản chữ Hán. Đây là điểm lợi thế cho tăng chúng chùa Thiền Lâm khi tiếp tục học những chương tŕnh kế tiếp hay gặp phải môn học chữ Hán. Theo tôi, chữ Hán rất quan trọng trong việc t́m hiểu Phật giáo Ấn Độ qua nguồn tư liệu Hán Tạng, cũng như Phật giáo Trung Quốc và các nước chịu ảnh hưởng văn hóa của nước này, trong đó có cả văn hóa và Phật giáo Việt Nam. Đó cũng chính là lư do tại sao cách giáo dục của chùa Thiền Lâm lại chọn môn học chữ Hán.

Ngoài việc trau dồi trí tuệ, học tập Phật pháp và thế học, chùa Thiền Lâm cũng rất chú trọng đến tư cách của tăng chúng: cần phải có oai nghi tế hạnh, biết bổn phận và trách nhiệm đối với Phật pháp và dân tộc. Chính nhờ vậy mà chùa Thiền Lâm đă xuất hiện không ít danh tăng đầy đủ cả tài lẫn đức, suốt đời v́ sự nghiệp hoằng pháp lợi sanh như cố Ḥa Thượng Thích Đỗng Minh là một điển h́nh.

Rất tiếc, thời gian qua, từ khi Ḥa thượng viên tịch cho đến nay, sự nghiệp giáo dục tiếp tăng độ chúng của chùa vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Chư tăng chùa Thiền Lâm cần phải kế thừa và phát huy tông phong của thầy tổ để lại, làm sống dậy sự nghiệp tiếp tăng độ chúng, đào tạo tăng tài của cố Đại lăo Ḥa thượng cả cuộc đời xây dựng.

 

8.      Kết luận

 

Chùa Thiền Lâm do tổ Liễu Minh hiệu Đức Tạng khai sơn vào nhà Hậu Lê, tức năm Chiêu Thống thứ 3 (1789). Không rơ quê quán ngày tháng năm sinh của Ngài, chỉ biết Ngài mất vào ngày 25 tháng 5, Gia Long năm thứ 12 (1813), nhục thân của Ngài được an táng tại ngôi Tháp phía bên phải của chùa Thiền Lâm.

Tổ Liễu Minh - Đức Tạng không chỉ khai sơn chùa Thiền Lâm, c̣n là người kiến lập đ́nh thần Đắc Nhơn, có công di dân lập ấp để cho làng Đắc Nhơn được hưng thịnh như ngày nay.

Ngài đến đây xây dựng chùa không chỉ có mục đích làm nơi tu niệm cho dân Việt đến đây sinh sống, mà c̣n làm nhiệm vụ giữ mối quan hệ hài ḥa giữa các sắc tộc khác nhau cùng sống trong một địa phương. Đây chính là lư do Nội phủ B́nh Thuận ra sắc lệnh chở gỗ từ thôn An Ḥa đến tái kiến thiết chùa Thiền Lâm vào năm Giáp Dần (1854), do tổ Hải B́nh – Bảo Tạng đứng tái thiết.

Nếu tổ Liễu Minh – Đức Tạng có công khai sơn chùa Thiền Lâm, đ́nh Đắc Nhơn, làm chỗ dựa tinh thần cho cư dân đa sắc tộc của địa phương sinh sống, th́ tổ Hải B́nh - Bảo Tạng kế thừa tinh thần này, bằng cách phát huy mở rộng vùng hoằng hóa đến tận miền Nam, trên bước đường hoằng hóa Ngài đă khai sơn trùng tu rất nhiều chùa ở phía nam.

Nếu Liễu Minh – Đức Tạng có công khai sơn, tổ Hải B́nh - Bảo Tạng lập nguyện mở rộng địa bàn hoằng hóa, th́ cố Đại lăo Ḥa thượng Huyền Tân từ cơ sở đó phát huy đẩy mạnh công tác giáo dục, tiếp tăng độ chúng, đào tạo tăng tài.

 

9.     Lời đề nghị

 

Qua công tác điều tra nghiên cứu thật tế chùa Thiền Lâm gợi ư cho chúng ta thấy, thật ra đây chỉ là một sự kiện trong trăm ngàn sự kiện của các chùa đ́nh gia phả… trong cả nước vẫn chưa được Giáo hội và các tổ chức nghiên cứu khoa học xă hội quan tâm.

Thật đáng buồn trước kho tàng tư liệu sử quí giá đang bị hủy hoại theo thời gian, một điều đáng tuổi hổ là chúng trải qua các thời kỳ chiến tranh tàn phá khốc liệt, nhưng được các bậc thầy tổ cha ông của chúng ta ǵn giữ cẩn trọng, nhưng nó được truyền đến thời đại chúng ta, là thời đại tương đối ổn định về mọt mặt, nhưng chúng ta lại vô t́nh quên đi tài sản vô giá này.

Các tài liệu sách vỡ… trải qua hằng vài ba trăm năm trở lên hiện đang được cất giữ trong các đ́nh chùa đang trong thời kỳ mục nát. Nếu chúng đă bị hủy hoại th́ vấn đề lịch sử của Phật giáo, văn hóa… Việt Nam chúng ta dựa vào đâu để viết. Thế th́ trách nhiệm của vấn đề này thuộc về ai?

 

 

Tài liệu tham khảo

 

1.      Thích Tịnh Hạnh, “Nam Thổ Bảo Đàn Kinh” (chữ Hán), chùa Thiền Lâm, Phan Thiết, tái bản năm Đinh Tỵ (1917).

2.      Thích Tịnh Hạnh, “Thích Song Tổ Ấn Tập” (chữ Hán), khắc bản năm Khải Định năm Quí Hợi (1923).

3.      Trần Trọng Kim, “Đại Việt Sử Kư Toàn Thư” quyển 1 và 2, Bộ Giáo Dục. Trung tâm học liệu xuất bản, 1971.

4.      Viện khoa học xă hội Việt Nam, Viện sử học, “Đại Nam Thực Lục” tập một, Nxb Giáo Dục.

5.      Nguyễn Đ́nh Tư, “Non Nước Ninh Thuận”, Nxb Thanh Niên, 2003.

6.      Nguyễn Hiền Đức, “Lịch sử Phật Giáo Đàng Trong”, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 1995.

7.      Thông Thanh Khánh, “Chùa Ninh Thuận” , Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 2000.

8.      “Kỷ yếu lễ khánh thành chùa Phật Quang”, Lưu hành nội bộ, 2006.

9.       “Hồ Sơ Di Tích Kiến Trúc Tôn Giáo Đ́nh Đắc Nhơn” Sở văn hóa thông tin Ninh Thuận, và một số giấy tờ ruộng đất của Chùa Thiền Lâm.

10. Lương Ninh, “Vương quốc Champa”, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, năm 2006.

11. “Lược sử vùng đất Nam Bộ Việt Nam” của Hội khoa học Lịch sử Việt Nam, Nxb Thế giới, năm 2006.

 


 

[1] Nội dung tác phẩm “Thích Song Tổ Ấn Tập” so với nội dung quyển “Nam Thổ Bảo Đàn Kinh” không khác mấy, có lẽ tác phẩm “Thích Song Tổ Ấn Tập” là quyển tái bản có bổ sung, sửa chữa.

[2] Jaya Indravarman IV, c̣n có các tên gọi khác là: Pô Klong Girai, Pô Klău Girai, vua Lác - người có công trong việc củng cố nền tự chủ và sự thống nhất tŕ v́ vương quốc Champa “ở ngôi vua tối cao” trong khoảng thời gian từ 1151 - 1205, được cộng đồng người Chăm sùng kính.

[3] Năm 1069 có khỏan 10 tiểu vương quốc tuyên bố tự trị và thường xuyên đánh nhau để tranh giành quyền thống trị; miền Nam Champa nổi dậy vào các năm 1050, 1145, 1166, 1170 và 1190; 1129 – 1139 hai miền Nam Bắc đánh nhau…

[4] Năm 767 – 802, Champa chiếm đóng Chân Lạp; năm 1076, Champa tiến đánh và thắng lớn Chân Lạp; năm 1145 - 1149, Chân Lạp đánh và chiếm kinh đô Champa; năm 1177 Champa tấn công Chân Lạp chiếm kinh đô và cai trị 4 năm đến năm 1181; năm 1190 - 1102 Chân Lạp tấn công và chiếm đống Champa; 1203 - 1220, Chân Lạp ủng hộ nội loạn tạo chính biến và thừa cơ đô hộ Champa trong nhiều năm…

[5] Tức thành phố Chiến Thắng, hay c̣n có các tên gọi khác như: Phật Thành, Phật Thệ, Chà Bàn, Đồ Bàn – thuộc Thị trấn An Nhơn, tỉnh B́nh Định ngày nay.

[6] Tại ấp Đắc Nhơn – Ma Nương, chữ Hán là Ma Nương, về sau dịch trại ra thành Mai Nương.

[7] Trước kia phía trước chùa là con đường làng có hàng cây dương liễu, đó cũng chính là lư do tại sao chùa lại đổi hướng Đông xoay về hướng Tây Nam.

[8] Bài thơ này được trích từ sổ tay của cố Ḥa thượng, hiện vẫn c̣n lưu giữ nguyên bản chép tay.

[9] Nguyễn Hiền Đức, “Lịch sử Phật Giáo Đàng Trong”, Nxb Tp. Hồ Chí Minh, 1995, trang 362 ghi: “Có thể sau khi Ḥa thượng Sơn Nhân tịch (năm 1842), thiền sư Hải B́nh – Bảo Tạng cầu pháp với Tăng Cang Tế Giác – Quảng Châu, được ban pháp danh là Liễu Minh – Đức Tạng”

[10] Sđd, trang 363.

[11] Trần Trọng Kim, “Việt Nam Sử Lược” Quyển 1, Bộ Giáo dục, Trung tâm tư liệu xuất bản, 1971, trang 242 ghi: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân.”

 

TRANG TƯ LIỆU

 

 

HOME

© 2010. Bản quyền thuộc về trang nhà  www.tuechung.net

Chủ biên: Thích Hạnh B́nh

Liên lạc: tuechung@gmail.com