Pháp luận Pháp âm Diễn đàn Tạp văn Sách Tác giả Tư liệu Liên kết  

 

H́nh tượng Bồ tát Quan Âm và vấn đề b́nh đẳng giới

Thích Hạnh B́nh  

 

 

Một thanh niên hỏi tôi: “Có người nói Bồ tát Quan Âm không có thật, là tín ngưỡng của Bà La Môn phải không thưa thầy?”. Tôi cười đáp: “Bồ tát Quan Âm có thật hay không tùy thuộc vào hai điều kiện: 1.Niềm tin. 2.Tự ḿnh nghiên cứu t́m hiểu. Tôi không đủ thời gian dài ḍng giải thích, chỉ xin lưu ư một vài điểm: Danh xưng Bồ tát Quan Âm không thấy trong các kinh điển của Phật giáo Nam truyền, chỉ xuất hiện trong kinh điển Đại thừa, cụ thể là “Kinh Diệu Pháp Liên Hoa’’ - ‘Phẩm Phổ Môn’ thứ 25. Như vậy, Bồ tát Quan Âm có thật hay không, phải tự thân nghiêm túc t́m hiểu, nếu không th́ chỉ dựa vào niềm tin (linh tại ngă bất linh tại ngă) mà thôi, do vậy tôi nhường câu trả lời này cho anh”.

Với câu trả lời cho anh thanh niên, tôi muốn nhấn mạnh rằng: nếu không đứng từ góc độ Phật giáo Đại thừa, người ta có thể cho là Bồ tát Quan Âm không có thật. Tuy nhiên hạnh Bồ tát (làm lợi ích cho mọi người, cho tất cả chúng sinh) trong Phật giáo là điều có thật. Ư nghĩa này được rút ra từ các kinh điển của Phật giáo Nam truyền, cụ thể là “Jātaka” (tiền thân) trong “Khuddaka” (Tiểu Bộ), là một trong 5 bộ Nikāya. Tư tưởng Bồ tát là có thật, hạnh nguyện cứu độ chúng sinh giúp đỡ mọi người của Bồ tát là có thật, do vậy nếu Bồ tát không có danh xưng Quan Âm th́ cũng có danh xưng khác. Phật giáo Đại thừa không quan trọng danh xưng, mà chú trọng ở tư tưởng và giá trị thực tế - hạnh nguyện tốt đẹp, ích ḿnh lợi người. (Hoa hồng hương ấy sá ǵ tên chi).

Với tư tưởng đó, Phật giáo Đại thừa triệt để triển khai tinh thần Bồ tát đạo. Tùy theo hạnh nguyện của ḿnh, Bồ tát xuất hiện dưới nhiều thân tướng khác nhau, nhằm hóa độ nhiều đối tượng khác nhau, như Bồ tát Địa Tạng với hạnh nguyện vào địa ngục để cứu độ những chúng sinh ở đây; Bồ tát Văn Thù với đại trí tuệ hàng phục những tà ma ngoại đạo; Bồ tát Quan Âm dưới thân tướng trang nghiêm là người nữ, với ḷng đại bi Ngài lại phân thân xuất hiện dưới nhiều thân tướng khác nhau, không chỉ là người xuất gia mà cả h́nh thức người tại gia, có thể là nam hay nữ, quan hay dân…và ở bất cứ nơi đâu miễn nơi ấy có chúng sanh đau khổ th́ Ngài xuất hiện, giống như người mẹ hiền che chở đàn con thơ.

H́nh ảnh Bồ tát Quan Âm xuất hiện dưới thân tướng là người nữ, ngoài ư nghĩa tôn giáo, c̣n có ư nghĩa về mặt xă hội nếu xét đến bối cảnh “trọng nam khinh nữ” của xă hội Ấn Độ thời bấy giờ.

Ấn Độ và Trung Quốc là hai lục địa lớn nhất ở Châu Á, cũng là hai cái nôi văn hóa không riêng Châu Á mà của cả thế giới. Hai quốc gia này đều có chung truyền thống “trọng nam khinh nữ”, từ đó lan rộng và ảnh hưởng đến các nước phụ cận thuộc Châu Á, trong đó có Việt Nam. Ở những xă hội có truyền thống văn hóa này, hầu như trong ư thức của mọi người đều cho rằng, người nữ như là điều xui xẻo, tai họa, bất hạnh. Họ bị hành hạ, chà đạp nhân phẩm, đem bán, thậm chí bị tước quyền được sống[1], như những nước ở Trung Đông.

Xă hội ngày nay c̣n có tiếng nói của nhân quyền và các tổ chức xă hội lên tiếng can thiệp đối với việc hành hạ nhục mạ nhân phẩm người nữ, nhưng với thời xa xưa cách đây 2500 năm, người ta xem như là chuyện b́nh thường và tự nhiên, không ai lên tiếng phản đối. Tuy nhiên, Thế Tôn không chấp nhận sự bất b́nh đẳng giới này, có thể nói Ngài là người đầu tiên lên tiếng phản đối truyền thống xấu xa này. Ngài không những chỉ phản đối chế độ giai cấp của Bà La Môn, mà c̣n phản đối tư tưởng “trọng nam khinh nữ” của xă hội Ấn Độ. Lời khuyên của Ngài đối với vua Pasenadi nước Kosala trong “Kinh Tương Ưng” là một minh chứng cụ thể. Câu chuyện ghi rằng, trong lúc nhà vua cùng đức Phật tṛ chuyện th́ có tin truyền đến Hoàng hậu đă sinh một người con gái. Nhà vua không giấu được nỗi buồn trên mặt, do đó đức Phật đă nói bài kệ khuyên vua:

Này Nhân chủ, ở đời,
Có một số thiếu nữ,
Có thể tốt đẹp hơn,
So sánh với con trai,
Có trí tuệ, giới đức,
Khiến nhạc mẫu thán phục.
Rồi sinh được con trai,
Là anh hùng, quốc chủ,
Người con trai như vậy,
Của người vợ hiền đức,
Thật xứng là Đạo sư,
Giáo giới cho toàn quốc.
[2]

Nội dung và ư nghĩa của bài kệ này gồm hai ư chính: 1. Xác định Ấn Độ là xă hội có truyền thống tư tưởng “trọng nam khinh nữ”; 2. Đức Phật không đồng t́nh quan điểm ấy, Ngài khẳng định có những người nữ có trí tuệ đức hạnh hơn cả người nam, chớ có khinh thường người nữ. Ở bối cảnh xă hội Tây phương ngày nay th́ quan điểm bênh vực cho nữ giới là việc được thực hiện rất b́nh thường và hiển nhiên, nhưng trong bối cảnh nước Ấn Độ cách đây hơn 2.500 năm, dưới thời đại quân chủ chuyên chế, và nặng nề tư tưởng trọng nam khinh nữ, đức Phật đă ngang nhiên tŕnh bày quan điểm của ḿnh trước nhà vua, đó mới là chuyện bất b́nh thường hy hữu; có thể nói đó là tiếng nói đầu tiên bênh vực, bảo vệ giới nữ, đưa vị trí người nữ ngang bằng với nam giới. Không những chỉ có nói, Ngài thể hiện quan điểm này bằng hành động cụ thể, tức là cho giới nữ xuất gia; khẳng định người nữ cũng có thể chứng quả vị tối cao là A la hán[3] (Thời kỳ Phật giáo Nguyên thủy chỉ có 4 quả, A la hán là quả vị cao nhất), trên thực tế cũng đă có nhiều vị Tỷ kheo ni đă thành tựu quả vị này.

Việc cho người nữ xuất gia là ngược lại quan điểm truyền thống Ấn Độ, nên quá tŕnh hợp thức hóa Ni giới trong Tăng đoàn không dễ dàng, không những bị sức ép từ xă hội, mà ngay trong Tăng già cũng kịch liệt phản đối, điển h́nh là ngài Ca Diếp[4]. Có nhiều ư kiến khác nhau về lư do v́ sao ngài Ca Diếp không đồng t́nh với đức Phật và tôn giả A Nan, nhưng đến nay vẫn chưa được làm sáng tỏ, vấn đề này cũng cần được nghiên cứu. Trước t́nh h́nh đó, dĩ nhiên đức Thế Tôn phải cân nhắc, và phải chuẩn bị những điều kiện sống cần thiết (cư trú) trước khi cho người nữ xuất gia. Cuối cùng, người nữ cũng được xuất gia trong Tăng đoàn, h́nh thành Ni giới. Điều đó chứng tỏ quan điểm và sự quyết tâm của đức Phật và A Nan cho người nữ xuất gia là hợp lư, không những tạo điều kiện cho giới nữ có cơ hội học Phật pháp, tu tập để thành tựu giác ngộ và giải thoát mà c̣n mang ư nghĩa kêu gọi xă hội b́nh đẳng về giới tính, xóa bỏ thái độ “trọng nam khinh nữ”, giải phóng biết bao người phụ nữ thoát khỏi nỗi đau khổ tủi nhục do quan niệm sai lầm này gây ra.

Phật giáo Đại thừa đă kế thừa tư tưởng này và có công rất lớn trong sự nghiệp cải cách, xóa bỏ sự bất b́nh đẳng về giới. H́nh tượng Bồ Tát Quán Âm xuất hiện dưới thân h́nh người nữ, bằng t́nh thương vô biên, được mô tả như là người có ngàn tay ngàn mắt, thần thông quảng đại, xuất hiện khắp hang cùng ngơ hẻm, mọi lúc mọi nơi, thực thi tinh thần cứu độ chúng sinh, với lời nguyện: “Nơi đâu có tiếng than khổ th́ nơi ấy có Ngài” (Kinh Pháp Hoa- Phẩm Phổ Môn). Đó là t́nh thương và bản chất của người mẹ, chỉ có người mẹ mới làm được việc ấy. Trong thế gian không có t́nh thương nào bằng t́nh thương của mẹ, không có ḷng bao dung, chịu đựng nào bằng ḷng bao dung chịu đựng của người mẹ, nếu con có ngỗ nghịch, bất hiếu như thế nào đi nữa, khi gặp nạn cần sự giúp đỡ th́ mẹ sẵn ḷng tha thứ và ch́a tay nâng đỡ con. Bồ tát Quan Âm cũng thế, Ngài xuất hiện như người mẹ, thương chúng sanh như con ruột, luôn cận kề vỗ về an ủi xoa dịu nỗi đau của đàn con.

V́ Bồ tát Quan Âm có hạnh nguyện như thế nên bất cứ ai dù là nam hay nữ, dân hay quan, kẻ ác hay người thiện...đều có thể đến với Ngài, cầu Ngài cứu độ. Có lẽ chính v́ ḷng hiền từ và bao dung ấy, mà người dân Việt Nam gọi Ngài bằng cái tên thân thiết là “Mẹ Hiền Quan Ấm” hay “Phật Bà Quan Âm”, v́ Ngài hiền từ và dễ thương như người mẹ. Từ đó h́nh tượng của Ngài được dựng ở khắp mọi nơi, từ thị thành đến thôn quê, từ non cao đến biển cả, nhất là những nơi thường xuất hiện bất trắc hiểm nguy.

H́nh ảnh Bồ tát Quan Âm xuất hiện dưới thân h́nh người nữ, có t́nh thương bao la, dễ thương gần gũi như người mẹ và hạnh nguyện của Ngài là biện pháp hữu hiệu nhất để phá vỡ quan niệm phi đạo lư: “trọng nam khinh nữ” của truyền thống dân tộc Ấn Độ nói riêng và loài người nói chung, trong đó có cả Việt Nam.

H́nh ảnh Ni giới được tu được học và được thành tựu đạo quả trong đạo Phật cho thấy Phật giáo là một tôn giáo đi đầu trong việc đề xướng b́nh đẳng giới, đả phá quan điểm “trọng nam khinh nữ”. Đức Thế Tôn là người đầu tiên đ̣i quyền lợi cho giới nữ, đưa vị trí giới nữ ngang bằng nam giới.

Hy vọng rằng qua bài viết này chúng ta thấy được quan điểm tiến bộ và thực tế của đạo Phật, lời đức Phật luôn luôn đi cùng với con người, với sự thật và lẽ phải. Chúng ta có thể không tin tưởng Bồ tát Quan Âm là có thật, nhưng hạnh nguyện – tinh thần từ bi cứu độ chúng sinh, và giá trị xóa bỏ truyền thống tư tưởng “trọng nam khinh nữ” của xă hội th́ không thể phủ nhận.

 

Vạn Hạnh, rằm tháng Giêng năm Kỷ Sửu

 


 

[1] Nhiều phụ nữ theo đạo Hindu ở một số vùng tại Ấn Độ sẽ tự thiêu sống ḿnh nếu như chồng họ không may bị chết v́ bất cứ lư do ǵ. 

[2] HT. Minh Châu dịch, “Kinh Tương Ưng Bộ” tập 1, Viện NCPHVN ấn hành, 1993, trang 194.

[3] HT. Minh Châu dịch, “Kinh Tăng Chi Bộ”, tập 3, Viện NCPHVN ấn hành, 1996, trang 653 (Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn: Nữ nhân sau khi xuất gia…có thể chứng quả ǵ? Này Ananda, sau khi xuất gia, từ bỏ gia đ́nh, sống không gia đ́nh, trong pháp và luật do Như Lai thuyết giảng, nữ nhân có thể chứng được Dự Lưu, Nhất Lai, Bất Lai hay A La Hán quả.)

[4] “Tỳ Ni Mẫu Kinh”(毘尼母經), (CBETA, T24, no. 1463, p. 818, b16-c6). Trong kinh này, Tôn giả Ca Diếp quở trách A Nan: v́ A Nan xin Phật cho người nữ xuất gia, nên Phật pháp gặp phải 10 việc không may, như v́ người nữ xuất gia cho nên Phật pháp bị hoại diệt trước 500 năm.

 

 

Thư mục pháp luận

 

 

HOME

© 2010. Bản quyền thuộc về trang nhà  www.tuechung.net

Chủ biên: Thích Hạnh B́nh

Liên lạc: tuechung@gmail.com